Thủ tục đấu thầu hàng hóa, dịch vụ theo pháp luật hiện hành

Đấu thầu là một quá trình chủ đầu tư lựa chọn được một nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của mình theo quy định của luật pháp. Trong nền kinh tế thị trường, người mua tổ chức đấu thầu để người bán...
Đấu thầu là một quá trình chủ đầu tư lựa chọn được một nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của mình theo quy định của luật pháp. Trong nền kinh tế thị trường, người mua tổ chức đấu thầu để người bán (các nhà thầu) cạnh tranh nhau. Mục tiêu của người mua là có được hàng hóa và dịch vụ thỏa mãn các yêu cầu của mình về kỹ thuật, chất lượng và chi phí thấp nhất. Mục đích của nhà thầu là giành được quyền cung cấp hàng hóa dịch vụ đó với giá đủ bù đắp các chi phí đầu vào và đảm bảo mức lợi nhuận cao nhất có thể. Theo Luật Thương mại 2005, thủ tục đấu thầu hàng hóa cơ bản gồm các bước sau:
1. Mời thầu Mời thầu là việc bên mua sắm hàng hóa, sử dụng dịch vụ đưa ra lời đề nghị mua hàng, dịch vụ kèm theo những điều kiện cụ thể của việc cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho gói thầu đến nhiều người bán hàng theo thủ tục đấu thầu.
2. Dự thầu Sau khi có thông báo mời thầu, những nhà thầu quan tâm đến gói thầu hoặc đã ở trong danh sách sơ tuyển sẽ làm thủ tục dự thầu thông qua việc nộp hồ sơ dự thầu. Bên mời thầu có trách nhiệm chỉ dẫn cho bên dự thầu về các điều kiện dự thầu, các thủ tục được áp dụng trong quá trình đấu thầu và giải đáp các câu hỏi của bên dự thầu (Điều 220 Luật Thương mại 2005)
3. Mở thầu Theo Điều 224 Luật Thương mại 2005, mở thầu là việc tổ chức mở hồ sơ dự thầu tại thời điểm đã được ấn định hoặc trong trường hợp không có thời điểm được ấn định trước thì thời điểm mở thầu là ngay sau khi đóng thầu. Quy định về trường hợp không có thời điểm được ấn định trước là một điểm mới của Luật Thương mại 2005, tạo nên sự chặt chẽ và thống nhất khi áp dụng luật, tránh được tranh chấp liên quan đến việc xác định thời điểm mở thầu. Những hồ sơ dự thầu đúng hạn phải được bên mời thầu mở công khai. Các bên dự thầu có quyền tham dự mở thầu. Những hồ sơ dự thầu nộp không đúng hạn không được chấp nhận và được trả lại cho bên dự thầu dưới dạng chưa mở. Khi mở thầu, bên mời thầu và các bên dự thầu có mặt phải ký vào biên bản mở thầu. Biên bản mở thầu phải ghi rõ tên hàng hóa, dịch vụ đấu thầu; ngày, giờ, địa điểm mở thầu; tên, địa chỉ của bên mời thầu, các bên dự thầu, giá bỏ thầu của các bên dự thầu; các nội dung sửa đổi, bổ sung và các nội dung có liên quan, nếu có (Điều 226 Luật Thương Mại 2005)
4. Xét thầu (đánh giá và so sánh hồ sơ dự thầu) Xét thầu là việc đánh giá, xếp loại hồ sơ dự thầu để chọn nhà thầu trúng thầu. Điều 227 Luật Thương Mại năm 2005 quy định: Hồ sơ dự thầu được đánh giá và so sánh theo từng tiêu chuẩn làm căn cứ để đánh giá toàn thiện. Các tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu do bên mời thầu quy định. Những tiêu chuẩn này được đánh giá bằng phương pháp cho điểm theo thang điểm hoặc phương pháp khác đã được ấn định trước khi mở thầu. Hồ sơ dự thầu thường được đánh giá theo hai mức độ là đánh giá sơ bộ và đánh giá chi tiết. Ở mức độ đánh giá sơ bộ, bên mời thầu kiểm tra tính hợp lệ và xem xét sự đáp ứng cơ bản các yêu cầu của hồ sơ dự thầu so với hồ sơ mời thầu. Những hồ sơ nào không đáp ứng các yêu cầu về tính hợp lệ hoặc đưa ra những đề xuất không thể chấp nhận được thì sẽ bị loại ngay mà không cần xem xét tiếp. Trong khi đánh giá sơ bộ, bên mời thầu có thể yêu cầu nhà thầu làm rõ hồ sơ dự thầu nếu điều đó là cần thiết để tăng thêm tính chính xác, tiến độ hoặc tính công bằng trong quá trình đánh giá.
5. Xếp hạng và lựa chọn nhà thầu Căn cứ vào kết quả đánh giá hồ sơ dự thầu, bên mời thầu phải xếp hạng và lựa chọn các bên dự thầu theo phương pháp đã được ấn định. Nhà thầu nào có hồ sơ hợp lệ, đáp ứng cơ bản các yêu cầu của hồ sơ mời thầu, có giá đánh giá thấp nhất (có thể không nhất thiết phải là hồ sơ có giá dự thầu thấp nhất) sẽ trúng thầu. Giá đánh giá không được vượt quá giá gói thầu đã dự kiến hoặc đã được phê duyệt. Trong trường hợp có nhiều bên tham gia dự thầu có số điểm tiêu chuẩn trúng thầu ngang nhau thì bên mời thầu có quyền chọn nhà thầu (khoản 2 Điều 229 Luật Thương Mại năm 2005). Với quy định này, Luật Thương Mại năm 2005 đã loại bỏ các quy định về quyền ưu tiên nhà thầu trong nước của các văn bản trước đó, do xuất phát từ đặc điểm của đấu thầu trong thương mại là một hoạt động thương mại nhằm mục đích sinh lời, nên việc lựa chọn bên nào trúng thầu có ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của họ và vì thế phải do họ quyết định.
6. Thông báo kết quả trúng thầu và kí kết hợp đồng Ngay sau khi có kết quả đấu thầu, bên mời thầu có trách nhiệm thông báo kết quả đấu thầu bằng văn bản cho các bên dự thầu. Đối với những gói thầu bắt buộc phải tổ chức đấu thầu, kết quả đấu thầu phải trình lên người có thẩm quyền phê duyệt trước khi công bố. Đối với nhà thầu trúng thầu, bên mời thầu phải gửi cho họ thông báo trúng thầu bằng văn bản kèm theo dự thảo hợp đồng và những điểm lưu ý cần trao đổi khi thương thảo hợp đồng.
Bên mời thầu tiến hành hoàn thiện và kí kết hợp đồng với bên trúng thầu trên cơ sở kết quả đấu thầu, các yêu cầu nêu trong hồ sơ mời thầu và nội dung nêu trong hồ sơ mời thầu (Điều 230 Luật Thương Mại năm 2005). Nếu quá thời hạn được ấn định kể từ thời điểm được thông báo trúng thầu mà nhà thầu trúng thầu không có thông báo chấp nhận hoặc từ chối giao kết hợp đồng, bên mời thầu có quyền giữ lại tiền bảo đảm dự thầu và xem xét mời nhà thầu được xếp hạng kế tiếp để thương thảo hợp đồng.
Trước khi kí hợp đồng, theo Điều 231 Luật Thương Mại năm 2005, các bên có thể thỏa thuận bên trúng thầu phải đặt cọc, ký quỹ hoặc được bảo lãnh để đảm bảo thực hiện hợp đồng. Số tiền đặt cọc, ký quỹ do bên mời thầu quy định nhưng không quá 10% giá trị hợp đồng. Biện pháp bảo đảm thực hiện hợp đồng có hiệu lực cho đến thời điểm bên trúng thầu hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng. Bên trúng thầu được nhận lại tiền đặt cọc, ký quỹ bảo đảm thực hiện hợp đồng khi thanh lý hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
7. Đấu thầu lại Theo Điều 232 Luật Thương Mại năm 2005, việc đấu thầu lại được tổ chức khi có một trong các trường hợp sau:
+ Có sự vi phạm các quy định về đấu thầu. Chẳng hạn như có bằng chứng cho thấy các nhà thầu có sự thông đồng tiêu cực tạo nên sự thiếu cạnh tranh trong đấu thầu hoặc để nâng giá gói thầu gây thiệt hại cho bên mời thầu thì bên mời thầu có quyền tổ chức đấu thầu lại. Các bên vi phạm sẽ phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại do hành vi của mình gây ra.
+ Các bên dự thầu không đạt yêu cầu đấu thầu. Đây là trường hợp mà tất cả các hồ sơ dự thầu về cơ bản đều không đáp ứng được yêu cầu của hồ sơ mời thầu và đạt mức điểm thấp hơn so với mức chuẩn do bên mời thầu đưa ra, vì vậy bên mời thầu có quyền hủy cuộc đấu thầu và tổ chức đấu thầu lại.



Tin liên quan